Đêm 10/6 dầu giảm 5%

À, câu chuyện cuối tuần 73 chỉ để làm vui lòng bà chị Clairo87 thôi. Còn bây giờ là a Xoài lo chuyện BB rùi

Nó bị bệnh động dục đó bác

Lại thêm 1 topic bị con trâu trắng xàm tấu là “rác rưởi của diễn đàn” khiến thằng DHA xoá đi. Bá ngọ chúng nó

Câu chuyện cuối tuần 15

Ngành vận tải biển – năm 2018 đầy thách thức.

Năm 2017 , chỉ số baltic đã có sự tăng trưởng đầy ngoạn mục. Nó tăng từ 260 điểm vào tháng 2 lên tới 1550 điểm cuối năm, tức tăng 6 lần. Vậy ngành vận tải biển lên hương? Câu chuyện ko hề đơn giản như thế.

Trong khi chỉ số Baltic tăng gấp 6 lần thì giá cước thuê tàu tăng ko tương xứng. Ví dụ ngày 21/4/2017 Chỉ số Freight Baltic giảm 139 điểm, tương đương 6.53% xuống còn 1,991 điểm, mức thấp nhất trong hơn một tháng. Thu nhập bình quân hàng ngày của tàu Capesize giảm 864 đô la Mỹ xuống còn 14.660 đô la Mỹ. Công suất bình thường của loại tàu này là 150.000 tấn.

Chỉ số Baltic Panamax giảm 59 điểm, tương đương 3.66% xuống còn 1.553 điểm. Lợi nhuận trung bình hàng ngày giảm 468 đô la Mỹ xuống 12,448 đô la Mỹ. Loại tàu thường mang từ 6 đến 70.000 tấn.

Đến ngày 37/3/2018 Chỉ số vận tải Baltic giảm 6 điểm, tương đương 0.5% xuống 1,191 điểm. Lợi nhuận hàng ngày trung bình tăng từ 1 đô la Mỹ lên 9,305 đô la Mỹ. Công suất bình thường của loại tàu này là 150.000 tấn.

Chỉ số Baltic Panamax giảm 23 điểm, tương đương 1.46% xuống còn 1.552 điểm, mức thấp nhất trong 3 tuần. Lợi nhuận hàng ngày trung bình giảm 185 USD xuống còn 12.471 USD. Loại tàu thường mang từ 6 đến 70.000 tấn.

Vì sao lại tréo nghoe như vậy. Vấn đề là do cơ cấu của chỉ số Baltic gồm nhiều loại tàu, và trọng số của loại tàu VLCC chở dầu khổng lồ có mức khá cao. Khi giá thuê VLCC tăng thì kéo chỉ số Baltic tăng, nhưng tàu loại nhỏ chả được hưởng mấy lợi. Tình trạng này đâu khác gì mấy mã VNM, GAS kéo cả VNI lên, nhưng midcap và penny vẫn đói rã họng.

Và đội tàu lớn với kích cỡ siêu trường siêu trọng chẳng những tranh mối hàng thì cũng thôi, chúng lại cậy ưu thế khủng của mình để đạp cước phí xuống. điều đó khiến đội tàu nhỏ đành bấm bụng thở dài. Hơn thế nữa đám tàu nhớn này ngày càng khủng hơn. Cách đây 5 năm, tàu container chở 13 ngàn TEU đã là nhớn, nay thì tàu 18 ngàn TEU vẫn là nhỏ. Bởi vì người ta đang đóng loại tàu chở được 23 ngàn container .

Vô hình chung đám tàu khủng đã đè cước phí vận chuyển của tàu nhỏ xuống, mặc kệ chỉ số Baltic tăng tới đâu. Nhưng tiên trách kỉ hậu trách nhân, cũng bởi vì tàu nhỏ nhiều quá nên cước phí ko sao tăng lên nổi. Trong topic này em ko nói về tàu chuyên chở container hay tàu chở dầu , nếu cần thì để topic khác nói. Em chỉ nói về tàu chở hàng khô

Và chúng ta bắt đầu xem xét đội tàu hàng khô

1.Phía Cung

Phần lớn các vấn đề trong thị trường hàng khô vào mỗi cuối năm có thể là do nguồn cung quá mức của tàu.

Vào cuối năm 2008, tập đoàn hàng khô có số lượng lớn nhất đạt tải trọng 332 triệu tấn, chiếm khoảng 52% tổng số đội tàu tại thời điểm đó. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm dần do hậu quả của việc cung cấp dư thừa tàu và suy thoái kinh tế toàn cầu. Dự báo về thời gian suy thoái kéo dài, tỷ lệ thuê tàu thấp và hạn chế tiếp cận tài chính cho nhiều chủ tàu yêu cầu lệnh đóng mới của các xưởng đóng tàu chậm lại. ây giờ chúng ta thấy mình đang ở trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác. Hiện nay, số lượng đặt tàu chở hàng khô chỉ chiếm dưới 7% về số lượng tàu và 9,2% về tổng công suất. Tỉ lệ này đã phá vỡ mức thấp kỷ lục 20 năm trước là 7,2% vào tháng 4 năm 2002.

Tổng các loại tàu đóng mới theo thời gian

Năm 2017 nhu cầu đang trên đà phát triển đã vượt xa nguồn cung cấp tàu, quả là điều hiếm hoi từ năm 2008. Điều này cho phép tái cân bằng lại nhu cầu và xu hướng này sẽ được tiếp tục vào năm 2018.

Mặc dù một số bài báo gần đây đã lưu ý rằng các đơn đặt tàu chở hàng khô đã tăng gấp bốn lần vào năm 2017 , nhưng năm 2016 chứng kiến ​​lượng đơn đặt hàng thấp nhất trong nhiều năm. Vì vậy, gấp 4 lần chỉ có tổng cộng 287 tàu, đó là một giọt nước trong xô, cho hơn 11.000 tàu hàng khô hiện đang chạy trên mặt nước. Và chúng ta xem xét các kích cỡ tàu chở hàng khô

a. Capesize

Hiện nay có 1.692 tàu lượng giãn nước lớn hơn 100.000 DWT (ở đây để đơn giản được phân loại là Capesize ) với năm chiếc khác để hạ thủy vào cuối năm 2017. Với 63 chiếc giao hàng vào năm 2018, điều này tăng tổng số đội tàu khoảng 3,7%. Nhưng nếu chúng ta tính đến sự sụt giảm và phá dỡ tàu dự kiến ​​thì con số này có thể sẽ chỉ còn tăng gần 1,5% tổng đội tàu. Một con số dễ quản lý nếu chúng ta có thể duy trì tăng trưởng thương mại khoảng 4% .

b. Panamax

Loại Panamax, đại diện cho các tàu có lượng giãn nước từ 65.000 đến 99.999 DWT, có tổng cộng 2.506 tàu trên mặt nước với 17 chiếc nữa được giao vào cuối năm 2017. Với 66 chiếc sẽ hạ thủy vào năm 2018, điều này làm tăng tổng số đội tàu khoảng 2,6%. Với dự kiến ​​giảm và phá dỡ, chúng ta sẽ thấy sự tăng trưởng ròng của đội tàu có thể dưới 1%.

c. Handymax

Lớp Handymax, đại diện cho các tàu có lượng giãn nước từ 40.000 DWT đến 64.999 DWT, có 3.547 tàu đang hoạt động với 21 tàu dự kiến ​​vào cuối năm 2017. Cùng với 93 chiếc được giao vào năm 2018 chiếm 2,6% tổng số đội tàu. Và một lần nữa, với sự sụt giảm và phá dỡ dự kiến làm tổng đội tàu sẽ chỉ tăng trưởng dưới 1%.

d. Handysize

Lớp Handysize, đại diện cho các tàu có lượng giãn nước từ 10.000 đến 39.000 DWT, có 3.363 tàu đang hoạt động và 18 tàu dự kiến ​​trước cuối năm 2017. Với 102 chiếc giao hàng vào năm 2018, điều này làm tăng tổng số đội 3%. Một lần nữa, với dự kiến ​​giảm và phá làm sắt vụn, chúng ta sẽ thấy tổng số đội tàu tăng trưởng chỉ khoảng 1-1,5%.

Mặc dù cho đến nay đặt hàng vào năm 2017 đang tăng, các đơn đặt hàng các tàu cỡ lớn đã tiếp tục giảm đi. Nhưng thứ tự giảm dần này không thể kéo dài mãi mãi. Thực tế là chủ sở hữu mà thấy tỷ lệ lợi nhuận cải thiện, có thể nhiều đơn đặt hàng sẽ được đặt. Cũng đừng quên rằng với việc gia tăng tỷ giá thuê bao sẽ tăng giá trị tài sản thay đổi số liệu về nợ / tài sản để cho nhiều chủ sở hữu có thể đẩy mạnh việc mua thêm tài sản.Hiện tại, tỷ lệ D / A trung bình của ngành đã cho phép tăng lên khi giá tài sản tăng lên đáng kể trong năm qua. Trên thực tế, giá trị trên sổ sách của mỗi loại Capesize, Panamax, Supramax và Handysize 5 năm đã tăng lần lượt 42%, 63%, 36% và 42% trong năm qua.

Nhưng người ta dự đoán rằng năm 2018 sẽ thấy một sự tăng lên của đơn đặt hàng có nghĩa là đơn hàng hiện tại có thể gần đáy hoặc thậm chí ở đáy của một chu kỳ. Một vài bài toán cho thấy rằng nếu các đơn đặt hàng năm 2018 sao chép mức trung bình trong sáu tháng qua, thì đến cuối năm 2018, số đơn tàu mới có thể đạt từ 9% đến 10% tính đến các khoản giao hàng dự kiến. Nếu đơn đặt hàng năm 2018 trùng với một số tháng đặt hàng đỉnh cao gần đây như tháng 5 hoặc tháng 9/2017, rất có thể chúng ta sẽ kết thúc năm 2018 với tăng trưởng khoảng 12% -13%.

2.Bên cầu

Như chúng ta có thể thấy từ phía cung, trên hết, chúng ta thực sự cần là tăng trưởng thương mại toàn cầu để duy trì ít nhất 2% hoặc cao hơn cho xu hướng tăng tiếp tục. Trong thập kỷ qua, chỉ trong năm 2009 và 2015 có mức tăng trưởng dưới 2%.

Cho đến nay, các dự báo đã đạt được một sự nhất trí công bằng khi đưa tổng nhu cầu hàng khô vào năm 2018 tăng trong dải từ 3,5% đến 4,5%. Điều này dự báo tốt cho nhu cầu tăng trưởng lớn hơn tăng trưởng ròng của đội tàu chở hàng khô và thậm chí cả tăng trưởng cả ngành. Vì vậy, đã có những người đang tìm kiếm chu kì bullish.

Nhu cầu hàng khô chủ yếu là quặng sắt, than, ngũ cốc

A.Quặng sắt

Hàng khô vận chuyển quan trọng nhất là quặng sắt với thị phần 29%. Quặng sắt thường được vận chuyển trên các tuyến đường dài với các tàu hàng rời lớn (capeize và lớn hơn). Phần lớn nhu cầu quặng sắt toàn cầu đến từ Trung Quốc, và các nhà xuất khẩu quặng sắt chính là Úc và Brazil. Triển vọng ngắn hạn đối với tăng trưởng nhu cầu vận chuyển là rất tích cực đối với quặng sắt như minh họa dưới đây.

Chìa khóa của triển vọng vận chuyển quặng sắt là sự gia tăng lượng cung lớn trong vài năm tới. Thậm chí tích cực hơn nữa là nguồn cung chính từ là Brazil. Phần lớn quặng sắt của thế giới kết thúc ở Trung Quốc và Brazil - Trung - Quốc là tuyến đường vận chuyển dài nhất mà chúng ta có thể tìm thấy. Do đó, nhu cầu vận chuyển theo tấn km có thể sẽ tăng đáng kể.

b.Than

Hàng hóa quan trọng tiếp theo cho vận chuyển hàng rời là than với 23% thị phần. Nhu cầu than có thể được tách ra thành nhu cầu cho việc tạo ra điện và sử dụng cho sản xuất thép. Đối với sản xuất thép, các công ty thường sử dụng than chất lượng cao hơn được gọi là than cốc.

Phần lớn nhu cầu hàng rời thường xoay quanh than đá và quặng sắt, với Trung Quốc là khách hàng chủ chốt. Vì vậy, chúng ta dành chút thời gian vào chủ đề đó.

Yếu tố chính ảnh hưởng đến thương mại trong năm 2015 và đến năm 2016 (dẫn đến tăng trưởng thêm nữa trong năm nay) là sự suy yếu nhập khẩu than của Trung Quốc, tổng cộng giảm 30% , dẫn đến sự sụt giảm của thương mại than theo đường biển toàn cầu gần 7% vào năm 2015 và 2% vào năm 2016. Đến năm 2017 tăng 1.5% nhờ sự phục hồi của ngành thép Mĩ dưới thời Trump.

Việc nhập khẩu than bay hơi của tàu khựa để sử dụng trong các nhà máy điện đã tăng 25% trong nửa đầu năm 2017. Nhưng sau đó việc làm chậm giải phóng tàu đã làm tăng thêm chi phí cho than nhập khẩu vì thời gian giải phóng hàng đã tăng gấp đôi lên đến 35 ngày vào nửa cuối năm 2017, dẫn đến việc các tàu xếp hàng dài nhiều km ở cảng.

Tăng chi phí than nhập khẩu sẽ làm tăng lợi thế cạnh tranh cho than nội địa của tàu. Điều này rất quan trọng đối với ngành than đá trước đây của tàu khựa vừa chỉ trở lại với lợi nhuận trong năm qua.

Tuy nhiên, vào năm 2015-16, nhập khẩu than hơi Ấn Độ cũng giảm trung bình 9% / năm Đến 2017 lại sụt giảm 8% trong khi các báo cáo cho thấy nhập khẩu của các nhà máy điện đốt than Ấn Độ đã giảm 19%.

Ngành bất động sản của tàu khựa chiếm khoảng 30% nhu cầu người dùng cuối trong nước và cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 40%. Hai lĩnh vực này ở tàu chiếm hơn 35% nhu cầu thép toàn cầu của người dùng cuối cùng.

c.Những sản phẩm nông nghiệp

Nhóm hàng cuối cùng của hàng hoá lớn mà chúng ta bàn luận là các sản phẩm nông nghiệp. Các loại hạt là một thành phần quan trọng trong vận chuyển hàng rời khô. Đậu nành, đường, lúa mì, ngô, và nhiều thứ nữa thường được vận chuyển trên các tàu hàng rời khô. Các loại ngũ cốc đóng góp khoảng 10% nhu cầu vận chuyển hàng rời toàn cầu, phân bón khoảng 3%, đường khoảng 1% và các sản phẩm nông nghiệp khác khoảng 3%. Tổng cộng nhóm hàng này chiếm khoảng 17% nhu cầu vận chuyển hàng rời.

Một khía cạnh thú vị của thương mại nông nghiệp là phần lớn sự gia tăng sản xuất toàn cầu có thể được tìm thấy ở Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Hầu hết nhu cầu tăng trưởng có thể được xác định ở Châu Á. Một lần nữa, như đã đề cập trước đây, đây là các ngành hàng vận chuyển hàng rời đường dài rất dài đang cho thấy tốc độ tăng trưởng lành mạnh.

Năm 2000, đội tàu hàng rời toàn cầu đã có lượng giãn nước ít hơn 100 triệu tấn MDWT. Con số này tăng lên khoảng 800 MDWT vào cuối năm 2017. Tăng gấp 8 lần trong 17 năm.

Điều đáng chú ý là năm 2017 vẫn cho thấy sự tăng trưởng của đội tàu là 6%, nhưng BDI đã được cải thiện đều đặn trong năm nay. Mặc dù sự tăng trưởng đội tàu, thị trường vẫn đang cần thắt chặt. Trong năm 2018, dự kiến ​​tăng trưởng đội tàu sẽ là 3%, và năm 2019 là 2%.

Đơn đặt hàng đóng tàu mới gần đây đã quay trở lại một chút như là phản ánh triển vọng cho vận chuyển lô hàng số lượng lớn đang nhanh chóng cải thiện. Vì vậy, đặt hàng đã được vừa phải tương đối so với quy mô lớn của đội vận chuyển hàng rời toàn cầu, nhưng đây là điều gì đó cần theo dõi chặt chẽ. Tin vui là hầu hết các đơn đặt hàng đóng tàu mới gần đây đều có ngày giao hàng cho nửa sau năm 2019 hoặc muộn hơn. Sự tăng trưởng đội tàu nhỏ vào năm 2018 đã được thiết lập, như là hầu hết sau nửa đầu năm 2019. Như vậy ngành tàu chở hàng khô có thời gian hơn 1 năm nữa để lấy lại hơi.

Một yếu tố khác sẽ làm giảm sự phát triển đội tàu là việc loại bỏ các tàu cũ. Một phần quan trọng của đội tàu hàng rời toàn cầu là những tàu trên 20 năm tuổi . Cũng may giá thép phế liệu đã tăng trong năm 2017, điều này sẽ khuyến khích việc phá dỡ tàu cũ thêm. Một phần lớn các tàu capesize cũ là các tàu chở quặng lớn (“VLOC”), được thiết kế từ các tàu chở dầu thân vỏ đơn chuyển đổi vào những năm 1990.

Trên thực tế, đã có hơn 40 tàu VLOC chờ phá dỡ.

Ngoài ra còn có hai quy định mới sẽ khuyến khích việc tiếp tục tiến lên phía trước. Việc xử lý nước dằn và các quy tắc về nồng độ sulfur. Cả hai bộ quy định mới này sẽ làm cho các tàu cũ trở nên kém hiệu quả hơn các tàu hiện đại và sẽ đòi hỏi nhiều khoản đầu tư vào thiết bị mới. Những khoản đầu tư này sẽ không thể biện minh cho nhiều tàu kích cỡ lớn, vì vậy sẽ có thêm nhiều tàu bị bỏ đi.

Nước dằn là một thành phần thiết yếu của sự ổn định của con tàu. Nước dằn được bơm vào để duy trì điều kiện hoạt động an toàn trong suốt chuyến đi. Điều quan trọng đối với các hoạt động vận chuyển hiện đại thì nó an toàn và hiệu quả, nhưng nó có thể gây ra các vấn đề về môi trường, kinh tế và sức khoẻ nghiêm trọng đối với vô số các loài sinh vật biển mang trong nước dằn tàu.

Theo IMO, Tổ chức Hàng hải quốc tế ( IMO), cơ quan quản lý quốc tế về vận chuyển hàng hải của Hoa Kỳ đã tuyên bố quyết định thực hiện nồng độ lưu huỳnh toàn cầu là 0,50% m / m (khối lượng / khối lượng) vào năm 2020, sửa lại mức giới hạn 3,5% hiện tại. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khoảng 70.000 tàu trên tổng số 110 ngàn tàu. Sẽ có đợt thay máu mới trong ngành vận tải biển.

Vinashine sẽ sống lại từ 2019 ( nếu nó còn đóng tàu cỡ nhớn) . Còn ngân hàng nào cho Vinashine vay tiền sẽ khởi sắc từ 2022 . Khi đó mấy con SHB, BID, CTG, VCB mới thực sự tăng trưởng trên nền tảng vững chắc hơn, khi hơn 150 ngàn nợ xấu có cơ may được bóc dần khỏi nội bảng kế toán. Còn từ giờ đến đó, đám ngân hàng trên vẫn chỉ tăng đểu phục vụ cho mục đích nào đó của nhà cái. Dù sao với lượng cổ phiếu cô đặc 95-99%, nhà cái rất dễ đẩy giá đám ngân hàng này để đánh lừa nhỏ lẻ.

Chúng ta thấy đội tàu tải trọng nhớn toàn cầu sẽ chỉ tăng trưởng 3% vào năm 2018 và 2% vào năm 2019. Trong khi các đơn đặt hàng mới vẫn có thể được bổ sung vào nửa sau năm 2019, bây giờ có thể nói rằng đội tàu sẽ phát triển rất chậm trong ít nhất 30 tháng tới. Trong thực tế, các sự cố chậm trễ, không giao hàng đúng hạn, phá hủy các tàu cũ sẽ dẫn đến sự phát triển hiệu quả của đội tàu. Các chiên za tin rằng tăng trưởng đội tàu chỉ có thể khoảng 1% mỗi năm trong 30 tháng tới. Khi chúng ta kết hợp sự tăng trưởng của đội tàu với sự triển vọng tốt về nhu cầu vận chuyển hàng rời, nó rút ra một bức tranh rõ nét về sự cải thiện đáng kể của thị trường trong tương lai.

Ví dụ, nếu có 19 lô hàng hóa và 20 tàu thì có thể gây ra một thị trường khủng khiếp, nhưng với 20 lô hàng hóa và 19 tàu làm cho một tình cảnh thật tuyệt vời. Điều này là do cước vận chuyển tàu thường là một phần rất nhỏ trong chi phí của một hàng hoá, do đó, nhiều người thuê tàu không hoảng sợ nếu chi phí vận chuyển tăng lên.

3.Rủi ro đối với tàu ngành hàng khô

Chuyên gia nêu bật các rủi ro chính có thể làm trật bánh thị trường vận chuyển hàng rời.

Thứ nhất là phụ thuộc vào tàu khựa, và ở mức độ thấp hơn ở Braxin. Một phần rất lớn nhu cầu vận chuyển hàng rời đến từ tàu khựa. Nếu nền kinh tế của họ đổ vỡ hoặc chính phủ ban hành quy định bất lợi, điều này sẽ làm hỏng thị trường hàng loạt. Ví dụ về các quy định không thuận lợi bao gồm khuyến khích sản xuất than / quặng sắt trong nước (mặc dù chất lượng thấp hơn và ô nhiễm không khí), sự chậm trễ của đầu tư cơ sở hạ tầng, hoặc bắt đầu các cuộc chiến thương mại. Tuy nhiên, quy định thêm của tàu cũng là một ‘rủi ro’ đối với xu hướng tăng. Nếu tàu quyết định khuyến khích nhập khẩu chất lượng cao hơn, khởi xướng các dự án xây dựng khổng lồ, hoặc thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác, nhu cầu vận chuyển có thể cải thiện từ đây.

Brazil là một nước xuất khẩu đang phát triển nhanh chóng trong nhiều mặt hàng chủ yếu như quặng sắt, bô xít và đậu nành. Đây là một động lực chính để vận chuyển hàng rời, vì khoảng cách tới khách hàng chính- tàu - là xa. Tình trạng bất ổn ở Braxin làm hạn chế tăng trưởng xuất khẩu này có thể là một sự kiện thiên nga đen tiềm năng.

Rủi ro chính thứ hai đáng để thảo luận là đặt hàng quá mức các tàu mới.Trong vài tháng gần đây, lệnh đặt tàu chở hàng khô đã bốc khói. Điều tích cực là gần như tất cả các đơn đặt hàng đã được đặt hàng vào cuối năm 2019, vì vậy thị trường nên rõ ràng trong vài năm tới. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán có thể được chuyển tiếp tìm kiếm. Đây chắc chắn là một khía cạnh mà chúng em dự định tiếp tục theo dõi chặt chẽ.

Rủi ro thứ ba chúng em muốn thảo luận là mùa vụ của thị trường. Từ tháng 12 trở đi cho đến cuối quý I, thị trường hàng rời thường yếu hơn. Mặc dù đây là một sự kiện hàng năm, thị trường vẫn có thể giao dịch cổ phiếu số lượng lớn xuống một chút, bởi vì chỉ số BDI sụt giảm. Một yếu tố nữa trong năm nay là mùa vụ có thể tồi tệ hơn do những hạn chế của tàu khựa đối với sản xuất thép . Sương mù làm không khí xấu nhất trong thời gian mùa đông và tàu khựa cố gắng tránh sự bùng phát sương khói khổng lồ trong những năm gần đây bằng cách tạm thời hạn chế sản xuất công nghiệp nặng của họ. Nhưng không cần quá lo lắng về hiệu ứng này: Nó sẽ là tạm thời; nó cũng nên khuyến khích nhập khẩu chất lượng cao thay vì chất lượng thấp hơn ở địa phương và quặng; và ngay cả khi vận chuyển hàng rời tạm thời bị ảnh hưởng, nó cũng sẽ dẫn đến sự sụt giảm lượng hàng tồn kho lớn và sử dụng rất cao khi những hạn chế được nâng lại.

Lại thêm 1 topic bị con trâu trắng xàm tấu là rác rưởi của diễn đàn khiến thằng DHA xoá đi. Bá ngọ chúng nó

Câu chuyện cuối tuần 24

Đường cong lợi suất dẹt ( Phần 1 : báo hiệu nguy cơ)

Trước khi đi vào câu chiện đường cong lợi suất, chúng em xin nêu 1 đặc tính hay ho của media quốc tế : đó là tính nhất quán. Media rất ít khi thay đổi xu hướng của mình, các cây bút cũng vậy. Ví dụ về giá oil, Reuteurs có thánh Kemp chuyên bìm bịp và 1 cây bút khác chuyên chim nhợn. Khi nào cho rằng giá oil tăng, Reuteurs đang bài của thánh Kemp. Khi nào muốn phán giá oil sắp giảm, Reuteurs đang bài của tác giả kia

Rất hiếm khi có cây bút nào thay đổi giọng của mình.

Đứng về trình độ thì quả là bọn họ kém xa các nick nổi tiếng của f3một9, sáng ra hô VNI giảm, đã chốt lãi hết rồi. Mở cửa thấy VNI tăng, vậy là cao thủ liền khoe đã kịp thời full margin. Đến chiều VNI giảm, hết phiên cao thủ đã lại show tài khoản bán hàng lời được 1 mớ. Quả là tài ba nha.

Quay trở lại đường cong lợi suất dẹt, một đề tài vừa qua được nhiều cây bút tô vẽ tranh đủ màu sắc. Có thể nói các chủ top đó biết thừa thực trạng ra sao, nhưng một khi được đặt hàng viết chim nhợn thì bọn họ hót véo von, và rồi cứ chim nhợn cho đến khi nào suy thoái hay khủng hoảng nổ ra. Và việc của media cũng chỉ đơn giản là đăng những topic đó.

Vậy đường cong lợi suất dẹt đi đã báo hiện nguy cơ gì?

Đầu tiên xin điểm qua vài khái niệm

Đường cong lợi suất là một đường vẽ biểu đồ chênh lệch mức lãi suất giữa trái phiếu kho bạc kỳ hạn dài ( thường là 10 năm ) và trái phiếu kho bạc kỳ hạn ngắn ( thường là 2 năm).

Đường cong lợi suất dẹt là đường cong lợi suất trong đó có sự khác biệt giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn khá nhỏ.

Đó là bởi vì lợi suất trái phiếu ngắn hạn tăng nhanh hơn nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn, đặc biệt là lợi suất trên nợ công hai năm, phản ánh kỳ vọng của thương nhân về việc tăng lãi suất của Fed. Nợ dài hạn, chủ yếu là lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm, phản ánh sự tự tin của thị trường trong hiến pháp kinh tế trong tương lai và mức lạm phát.

Có ba hình dạng cơ bản mà đường cong lợi suất có thể thực hiện, mỗi hình dạng có ý nghĩa khác nhau về tăng trưởng kinh tế.

Đường cong lợi suất bình thường, hướng lên trên, đường cong lợi suất như thế xuất hiện khi một nền kinh tế đang phát triển và các nhà đầu tư tự tin. Trong một nền kinh tế đang phát triển, các nhà đầu tư yêu cầu một khoản phí bảo hiểm bổ sung (lãi suất) cho trái phiếu đáo hạn dài hơn. Điều này là hợp lý xem xét có nhiều rủi ro liên quan đến việc có tiền gắn liền với thời gian dài hơn. Nền kinh tế lành mạnh hầu như luôn luôn có một đường cong lợi suất dốc lên, mặc dù lãi suất tạo nên đường cong đó có thể khác nhau đáng kể từ giai đoạn này sang giai đoạn khác.

Đường cong lợi suất dẹt cho thấy các nhà đầu tư không được bù đắp thêm rủi ro cho trái phiếu đáo hạn dài hơn. Đây là một dấu hiệu cảnh báo rằng nền kinh tế đang bị cưỡng ép; các nhà đầu tư kỳ vọng tăng trưởng chậm và các chỉ số kinh tế đang gửi tín hiệu lẫn lộn.Khi các nhà đầu tư mua và bán trái phiếu để làm phẳng đường cong lợi nhuận, họ đang chứng minh thông qua hành vi của họ rằng họ đang lo lắng về triển vọng của nền kinh tế. Kết quả là, họ thích có tiền của họ gắn lên lâu hơn trong các mục đầu tư an toàn, và nhu cầu mở rộng kinh doanh ít hơn .

Đường cong lợi suất dẹt có thể phát triển thành đường cong lợi nhuận “đảo ngược” đáng sợ khi triển vọng kinh tế rất ảm đạm. Khi đường cong lợi suất đảo ngược, nó cho thấy thời điểm kinh tế khó khăn phía trước. Logic đi như thế này: Nếu tôi lo lắng nền kinh tế sẽ sụp đổ, tôi muốn tìm cách an toàn để bảo toàn vốn của tôi. Nếu tôi nghi ngờ giá cổ phiếu giảm, và lãi suất giảm, tôi sẽ cố gắng để khóa vốn của tôi đi trong trái phiếu dài hạn như một cách để đi ra khỏi cơn bão. Khi ngày càng có nhiều nhà đầu tư làm điều này, nó sẽ khiến giá trái phiếu đáo hạn dài hơn và lợi suất giảm. Những nhà đầu tư tương tự sẽ tránh xa các trái phiếu ngắn hạn, có thể phải được tái đầu tư trong thời kỳ suy thoái. Sự thiếu hụt nhu cầu này khiến giá trái phiếu ngắn hạn giảm và lãi suất tăng.

Hình1 : đường cong lợi suất dẹt ra

Nhìn vào hình 1 chúng ta thấy mức chênh lệch giữa đường cong lợi suất dài hạn và ngắn hạn đang thu nhỏ lại ( tức dẹt ra) . Các cột đen là thời điểm xáy ra suy thoái và trước mỗi lần suy thoái như vậy thì đường cong lợi suất đều có bước cắm đầu lao xuống rồi đảo chiều.

Đường cong lợi suất đề cập đến lãi suất ngắn hạn và dài hạn. Đây có thể là mục tiêu quỹ liên bang hiện tại mà Ủy ban Thị trường mở dự trữ liên bang (FOMC) kiểm soát và được gọi một cách thông tục là lãi suất hiện hành; rộng hơn, nó đề cập đến sản lượng trên chứng khoán Kho bạc trong một vài năm. Trong bối cảnh lúc này, nhiều người tham khảo 2 năm hoặc 3 năm (mặc dù một số đi ra xa đến 5 năm).

“Kết thúc dài” của đường cong lợi suất đề cập đến lãi suất dài hạn. Đây thường là lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm, đôi khi trái phiếu kho bạc 30 năm (còn được gọi là “trái phiếu dài”).

Đối với một số bối cảnh, trước khủng hoảng tài chính, người ta thường tin rằng Fed kiểm soát ngắn hạn của đường cong lợi suất, trong khi đường cong lợi suất dài hơn phản ánh tiềm năng dài hạn của nền kinh tế và chạy lâu hơn kỳ vọng lạm phát. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính, có rất nhiều ý kiến ​​cho rằng mức độ nới lỏng định lượng của Fed (QE) đã ảnh hưởng đến lãi suất dài hạn.

Xin nhắc lại , đường cong lợi suất dốc khi lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn;nó “phẳng” khi chúng giống nhau; và đường cong lợi suất được đảo ngược khi lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài hạn.

Trong một mô hình ngân hàng cổ điển, các ngân hàng nhận tiền gửi ngắn hạn để thực hiện các khoản cho vay dài hạn. Như vậy, khi đường cong lợi suất dốc, các ngân hàng có nhiều tiền cho vay hơn thì càng kiếm được nhiều tiền hơn (giả sử người vay của họ không mặc định); khi đường cong lợi suất phẳng và khả năng đảo ngược, lợi nhuận có thể bị vắt và có khả năng trở thành tiêu cực. Đó là một chút phức tạp hơn vì người vay tư nhân trả một tỷ lệ cao hơn so với có sẵn cho chính phủ. Đường cong lợi suất ngược có thể cho thấy Cục Dự trữ Liên bang muốn làm chậm nền kinh tế.

Trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007, đường cong lợi suất thực sự dốc lên, không làm phẳng.

Tuy nhiên, nếu lịch sử là bất kỳ hướng dẫn nào, sự cân bằng của xác suất dường như gợi ý rằng đảo ngược sẽ xảy ra một lần nữa trước cuộc suy thoái tiếp theo. Nhưng điều đó không có nghĩa là đường cong lợi suất phẳng là dấu hiệu cảnh báo sắp xảy ra. Thay vào đó, trong bối cảnh ngày nay, người ta tin rằng một đặc điểm tốt hơn có thể là đường cong sản lượng phẳng là một sự phản ánh rằng Fed tin rằng hệ thống phanh nên được áp dụng (ngay cả khi họ muốn làm như vậy ‘dần dần’) cho một nền kinh tế mạnh.

“Nó sẽ kết thúc trong một cuộc suy thoái? Tất nhiên. Xác suất suy thoái là 100% “ như CEO Jamie Dimon của JPMorgan đã từng châm biếm “ câu hỏi không phải là liệu một cuộc suy thoái sẽ xảy ra ko mà là khi nào, 18 tháng nữa hay 18 năm nữa.”

Trong bối cảnh trên, chúng ta thấy đường cong lợi suất dẹt (không bị đảo ngược) như một chỉ số tích cực cho chu kỳ kinh doanh trong khoảng 6 tháng.Độ dốc của đường cong lợi suất là một chỉ số về nơi chúng ta đang đứng trong chu kỳ kinh doanh.

Vậy tại sao đường cong lợi suất thay đổi hướng trước một cuộc suy thoái

Vì khi sự bùng nổ tăng trưởng đã chín muồi và sắp kết thúc, sẽ có sự tranh giành tài trợ ngắn hạn bổ sung cho a) các dự án hoàn chỉnh được bắt đầu khi điều kiện tiền tệ dễ dàng hơn và b) giải quyết tình trạng thiếu tiền đã phát sinh do các dự án đã hoàn thành không phân phối dòng tiền dự đoán. Điều này làm tăng áp lực lên lãi suất ngắn hạn liên quan đến lãi suất dài hạn, và có thể, mặc dù không nhất thiết, khiến đường cong lãi suất bị đảo ngược.

Thế nhưng ko phải lần dẹt đi nào của đường cong lợi suất cũng dẫn đến suy thoái. Vậy những lần nó cắm đầu lao xuống có ý nghĩa gì? Vì thế người ta nhìn đến một họ hàng của nó : đường cong lợi suất tư.

Đường cong lợi suất ít được biết đến hơn hay nhìn vào sự chênh lệch đầu tư trên nợ của công ty . Điều này được gọi là “đường cong lợi suất tư”.

Hình 2 : Đường cong lợi suất tư

Đường màu đỏ trên hình 2 là đường cong lợi suât, còn đường màu đen chính là đường cong lợi suất tư .Đường cong lợi suất tư cung cấp nhiều thông tin hơn đường cong lợi suất công cộng. Nhưng sự đảo ngược của nó cũng không tự động có nghĩa là chúng ta đang tiến vào suy thoái.

Đường cong lợi suất tư đã có những nghịch đảo mà không dẫn đến suy thoái, nhưng lại dự đoán rất tốt về bất ổn tài chính. Khi người ta thấy sự đảo ngược đường cong lợi suất trong đường cong lợi suất tư, đó là một cảnh báo về vấn đề tài chính phía trước. Nó đã cảnh báo về bất ổn kinh tế châu Á 1997, bong bóng dot.com 2000. Và như chúng ta thấy hiện tại, các chiên za lại đang cãi nhau như mổ bò xem đây là loại nguy cơ gì. Khủng hoảng của thị trường mới nổi hay khủng hoảng nợ nước Ý ? Thời gian sẽ trả lời.

Ngày mai chúng em post phần 2 : Chỉ xích thiên nhai

Câu chuyện cuối tuần 24

Đường cong lợi suất dẹt ( Phần 2a : Chỉ xích thiên nhai)

Như trong phần 1 chúng em đã nêu, đường cong lợi suất đang dẹt ra. Chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 5 năm và 30 năm thấp ở mức 26,2 điểm cơ bản, mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007. Chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm và 10 năm giảm xuống còn 41,0 điểm cơ bản, mức thấp nhất kể từ tháng 9 năm 2007.

Chênh lệch 41 điểm tức là FED chỉ cần tăng lãi suất thêm 2 lần nữa, mỗi lần thêm 25 điểm thì đường cong lợi suất lập tức đảo chiều. Chỉ cần suy tính như vậy là vô số cao thủ nhảy ra phán sắp suy thoái. Lại thêm đường cong lãi suất tư cũng đi vào lãnh thổ âm nữa nên dàn đồng ca suy thoái càng thêm đông đảo. Có thể phân chia bọn họ thành mấy nhóm

  • Những người thực lòng tin rằng sắp suy thoái chỉ vì thời gian tăng trưởng đã quá dài

  • Những người vì lí do gì đó ( quĩ hưu trí, quĩ các nước , ….) đang nắm trái phiếu ko bán được, lãi suất tăng thì lợi nhuận của bọn họ giảm

  • Người của giới tài chính ngân hàng : nếu FED nâng lãi suất nhanh, miếng bánh của bọn họ nhỏ đi. Chính đám này đã vin vào cớ lương tăng nhanh để đạp cho DJ gục sấp mặt hồi đầu tháng 2 nhằm làm cho tân chủ tịch FED biết rằng bọn họ ko thik FED tăng lãi suất 4 lần trong năm 2018

  • Các tay chơi đã đặt cửa trái phiếu

  • Những người đã dùng sóng Elliot để chứng minh DJ đã hết đà tăng trưởng

Nhưng cho dù bọn họ thực lòng tin rằng suy thoái sẽ đến sau 12 tháng hay giả vờ tin như vậy thì chúng em vẫn nói rằng : suy thoái là chuyện chỉ xích thiên nhai, tức nhìn như ngay trước mắt mà thực tế lại đang xa tận chân trời.

Lí do đầu tiên có thể đưa ra là FED . Nếu như FED nghĩ rằng suy thoái sẽ đến trong vòng 24 tháng nữa thì đố FED dám tăng lãi suất 4 lần trong 2018 và 3 lần trong 2019. Tội danh làm đảo chiều đường cong lãi suất thì FED ko gánh nổi.

Có nhiều lí do để FED nâng lãi suất, trong câu chuyện tuần 23 chúng em đã đề cập. Trước hết là giá nhà ở mĩ đã đạt độ cao như trước khủng hoảng tài chính. Nếu khi thiên hạ đã điên cuồng lao vào đầu cơ lướt sóng nhà thì dẫu tăng lãi suất cũng vô dụng. 17 phiên liên tiếp FED nâng lãi suất ngay trước khủng hoảng 2008 đã chỉ ra điều đó. Phải nâng lãi suất trước khi thiên hạ phát rồ với việc đầu cơ nhà thì mới có tác dụng ngăn chặn, cho nên việc tăng lãi suất lúc này là tất lẽ dĩ ngẫu.

FED nâng lãi suất thì cũng có tác dụng lùa tiền từ kênh trái phiếu chảy sang kênh cổ phiếu, qua đó kéo dài đà tăng trưởng, ngăn chặn suy thoái dù cho đường cong lợi suất đã dẹt ra mỏng như lá lúa.

Đường cong lợi suất trước hết dẹt ra do lãi suất ngắn hạn tăng. Sự gia tăng của tỷ lệ ngắn hạn phần lớn phản ánh sự tự tin lớn hơn trong tăng trưởng và triển vọng lạm phát,đặc biệt là trong sự trỗi dậy dưới tác động của kích thích tài chính của Mỹ. Động thái này chủ yếu là chạy theo hướng của nó, khi các thị trường có giá trong việc tăng lãi suất dự trữ liên bang.

Việc tăng lãi suất ngắn hạn của Mỹ đã góp phần làm phẳng đường cong lợi suất và khuấy động những lo ngại về sự đảo ngược đường cong, một dấu hiệu suy luận không được nhắc đến trước đó. Tuy nhiên, có những lý do tại sao đường cong phẳng của ngày hôm nay có thể ít thông tin hơn trong các chu kỳ trước đó.

Thứ nhất, đường cong phẳng ngày nay là mục đích của các chương trình nới lỏng định lượng toàn cầu. Ngân hàng trung ương mở rộng chỗ ở bằng cách hạ lãi suất dài hạn và giảm phí bảo hiểm kỳ hạn.

Thứ hai, thị trường tài chính ngày càng trở nên tích hợp hơn: Lợi suất thấp trên trái phiếu đáo hạn ở châu Âu và Nhật Bản đang giảm cân đối với các đối tác Mỹ mặc dù chi phí bảo hiểm cao hơn. Thứ ba, phát hành kho bạc ngắn hạn cao hơn đã góp phần vào đường cong phẳng hơn.

Hình 3: đường cong dẹt ra

FED đã thắt chặt định lượng QT làm giảm cung tiền, tăng giá trị đồng bạc xanh, hút tiền từ các nước về nước mĩ, qua đó chống rơi vào suy thoái. Tỷ lệ thoát khỏi bảng cân đối kế toán của Fed được dự báo sẽ tăng lên 50 tỷ đô la mỗi tháng vào cuối năm 2018 . Điều này có nghĩa là ít nhất 600 tỷ đô la trái phiếu sẽ bị loại khỏi bảng cân đối kế toán của Fed vào năm 2019.

Không cần phải nói, những khoản tiền đó kết hợp với thâm hụt hàng năm nghìn tỷ đô la phát sinh từ sự kết hợp cắt giảm thuế Trump và tăng chi tiêu có thể gây ra lãi suất dài hạn được duy trì ở mức cao và do đó “thao túng” đường cong lãi suất và ngăn không cho nó đảo ngược. Đường cong lợi suất trong chu kỳ này có thể không tốt bằng chỉ báo suy thoái như trong năm chu kỳ trước do sóng thần của trái phiếu kho bạc đến từ Fed và thâm hụt ngân sách liên bang gần đây.

Liệu đường cong lợi suất có thể trở nên bị choáng ngợp bởi sóng thần Kho bạc, nơi mà trong thị trường trái phiếu người ta đi tìm manh mối về giai đoạn cuối chu kỳ kinh tế? Đơn giản chỉ cần làm: Nhìn vào sự chênh lệch trái phiếu rác.


Hình 4: đường cong lợi suất cổ phiếu rác

Trong khi sự chênh lêch của cổ phiếu loại CCC không chặt chẽ như trong chu kỳ này, chúng đã thu hẹp đáng kể vào năm 2018. Nếu trái phiếu “rác” thấy sự chênh lệch thu hẹp trong năm 2018, thì đây được coi là một tín hiệu kinh tế tích cực.

“CCC hoặc thứ hạng thấp hơn” là một phần tương đối nhỏ của thị trường trái phiếu rác và tương đối kém thanh khoản, nhưng nó có thể cung cấp những hiểu biết về cách các nhà đầu tư trái phiếu xem triển vọng cho nền kinh tế Mỹ. Bởi vẻ bề ngoài của sự chênh lệch tín dụng thu hẹp trong những thứ rác rưởi nhất đã cho thấy họ dường như không lo lắng.

Nói một cách đơn giản : nếu như cổ phiếu rác mà ko bị chiết khấu đáng kể thì đó là dấu hiệu của thị trường tăng trưởng. Bởi chỉ ngửi thấy mùi suy thoái thì nhà đầu tư đã thi nhau quăng dép ở hạng mục này khiến mức chênh lệch tăng vọt làm đường cong dốc thẳng đứng, chứ đừng nghĩ tới đường cong của hạng mục này dẹt ra nữa

Ngoài việc ko chê bai cổ phiếu rác, cánh ngân hàng còn thể hiện quan điển ở chỉ số CDS và SLOOS.

Với sự biến động quay đầu đi xuống của thị trường vào tháng 2 năm 2018, đã có những tiếng thì thầm, hoặc thậm chí la hét về khả năng thị trường gấu đang lờ mờ hiện ra, và hầu hết mọi người tranh luận là giá cổ phiếu đã quá cao (ví dụ như 32X của Shiller), hoặc thị trường đã chạy quá nhanh (với chỉ số S & P gần 3.000, tăng hơn 4 lần so với mức độ sâu của suy thoái). Nhưng người ta lại không xem xét bối cảnh tín dụng mà diễn biến thị trường đã xảy ra ở trong đó.

Hình 5 : index CDS

Chỉ số hoán đổi tín dụng mặc định CDS (credit default swap) là loại chứng khoán nợ thường có các điều kiện đến hạn thanh toán vẫn còn dài, như mười năm trở lên. Bản thân, người phát hành thường khó biết chắc rằng trong thời gian từ mười năm trở lên, họ vẫn sẽ có vị trí tài chính vững chắc hay không.
Khi chỉ số CDS tăng lên, tất nhiên nó chỉ ra chi phí tài chính cao hơn, nhưng cũng báo hiệu sự không sẵn sàng của các ngân hàng và các nhà đầu tư về tài chính và tái cấp vốn công ty. Điều này, cùng với việc phân tích số lượng các ngân hàng thắt chặt các tiêu chuẩn cho vay (được tìm thấy trong Khảo sát ý kiến ​​cán bộ cấp cao hoặc SLOOS) có thể giúp các nhà đầu tư cổ phần xác định xem thắt chặt tín dụng có đạt được dấu hiệu cho thấy thị trường sắp tới sẽ giảm hay không.

Hình 6 : đường cong khảo sát SLOOS

Ngoài ra, khi SLOOS nổi bật, tỷ lệ phần trăm ngân hàng thắt chặt tiêu chuẩn cho vay đã dao động quanh mức 0% kể từ năm 2015 và hiện đang âm, làm nổi bật thêm việc nhiều ngân hàng đã giảm bớt các tiêu chuẩn tín dụng của họ để phê duyệt đơn, chủ yếu là cho vay C & I. Tín hiệu nới lỏng này tiếp cận tín dụng, và hỗ trợ một nền kinh tế đang phát triển và một luận điểm thị trường chứng khoán tăng trưởng

Vào thời khủng hoảng 2008, chỉ số CDS đạt mức 1300, nay chỉ dưới 100, điều đó báo hiệu mọi thứ vẫn ổn. Chỉ số SLOOS càng ấn tượng hơn khi nó phá đáy và nhỏ hơn 0. Điều này có nghĩa là giới lãnh đạo ngân hàng chỉ hận ko đào tường moi rễ được hàng xóm mà thu hút khách hàng từ bên họ về. Một khi ngân hàng vẫn còn sẵn lòng mở hầu bao và chấp nhận rủi ro với mức phí thấp, khủng hoảng còn ở xa nhắm.

Khi thị trường tăng trưởng đến 1 mức nào đó, tất yếu phải đặt câu hỏi về đà tăng tiếp theo của nó. Trong giai đoạn này của chu kỳ thị trường, tăng trưởng thu nhập, tái đầu tư, và vốn dễ dàng để hỗ trợ tái đầu tư đều quan trọng để tiếp tục mở rộng theo giá thị trường.

Với hiệu ứng đó, có ba điều quan trọng cần xem xét khi tập trung vào khi chúng ta hoàn toàn bước vào giai đoạn thứ hai của thị trường tăng trưởng này (suy nghĩ năm 1998 và 1999, hoặc 2006 và 2007):

  • Các công ty có cần thay thế tài sản cũ không?

  • Các công ty có cần đầu tư vào tài sản mới không?

  • Có vốn để thực hiện các khoản đầu tư này không?

Dựa vào chỉ số PP & E tổng hợp theo thời gian có thể là một thử nghiệm tốt để hiểu khi nào các công ty đã “vắt sữa” bảng cân đối của họ hoặc tăng cường đầu tư khi đối mặt với các cơ hội tăng trưởng dự kiến. Cụ thể, khi tỷ lệ PP & E tổng cộng tăng lên đáng kể (như đã làm trong năm 2005-2007), điều đó có nghĩa là các nhóm quản lý đang tích cực đầu tư vào tài sản của họ để thúc đẩy tăng trưởng.

Tuy nhiên, tỷ lệ PP & E trên tổng doanh thu liên tục giảm kể từ quý 3 năm 2014, và hiện đang ở mức thấp nhất trong vòng 15 năm. Biên độ ban đầu có liên quan đến việc đầu tư chậm lại trong lĩnh vực năng lượng sau khi giá dầu giảm, và đã trở thành một xu hướng lớn trên thị trường. Khi tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh tổng hợp giảm, các nhóm quản lý đang trì hoãn việc duy trì vốn và quản lý dòng tiền. Đây là dấu hiệu cho thấy đội ngũ quản lý chưa cam kết đầu tư vào tăng trưởng.

Hình 7 : tỉ lệ tái đầu tư

Tỷ lệ sử dụng công suất tổng cộng (TCU) của Hoa Kỳ được sử dụng để xác định mức độ hiện tại của hệ thống trong khả năng tăng khối lượng mà không chi tiêu trên vốn đầu tư. Fed sử dụng số liệu này để xem liệu có chỗ để phát triển nền kinh tế mà không gây ra áp lực lạm phát. Tỷ lệ TCU vượt quá 85% được cho là lạm phát.

Hình 8 : tỉ lệ sử dụng công suất

Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng công suất gần đây đã bắt đầu phục hồi. Đặc biệt, vào cuối năm 2017, tổng công suất sử dụng tăng từ mức thấp nhất của dải gần đây, ổn định trên 75%. Nó gần đây đã có xu hướng hướng tới 80% một lần nữa, có khả năng báo hiệu lý do mới cho chi tiêu capex trong trung hạn.Các công ty sẽ cần phải chi tiêu cho tăng trưởng capex để tiếp tục đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

2 Likes

Em viết Hàn lâm quá như công trình nghiên cứu khoa học vậy, a đọc k hiểu dc. Tóm lại là e cho rằng FED chỉ nâng ls thêm 2 lần nữa là đến đỉnh ls ah?

Câu chuyện cuối tuần 24

Đường cong lợi suất dẹt ( Phần 2b : Chỉ xích thiên nhai)

Chúng em xin tiếp tục với các tín hiệu suy thoái.

Một tín hiện cảnh báo suy thoái nữa là ETI ( Economic Trend Index ) và EMI ( Economic Momentum Index). Xu hướng kinh tế và chỉ số Momentum vẫn nằm trên vùng nguy hiểm tương ứng (50% đối với ETI và 0% đối với EMI). Khi / nếu các chỉ số rơi xuống dưới các điểm tới hạn đó, sự suy giảm sẽ đánh dấu những dấu hiệu cảnh báo rõ ràng rằng rủi ro suy thoái đang tăng lên và một sự suy thoái mới sắp xảy ra.

Hình 9 : Chỉ số ETI và EMI

Việc dịch các giá trị lịch sử của ETI vào xác suất suy thoái kinh tế thông qua mô hình probit cũng chỉ ra nguy cơ chu kỳ kinh doanh thấp đối với Hoa Kỳ trong tháng 5 . Phân tích dữ liệu trong khuôn khổ này chỉ ra rằng tỷ lệ cược vẫn có hiệu quả bằng không mà NBER sẽ tuyên bố tháng Tư là khởi đầu của một cuộc suy thoái mới.

Hình 10 : rủi ro suy thoái

Bác nào cẩn thận có thể theo đọc link bên dưới, chúng em chỉ tiết kiệm chút thời gian cho mọi người thôi. Link đây ạ, ở bên phải thanh link có nút dịch, gu gồ dịch topic này cũng khá tốt.

http://www.capitalspectator.com/premium-research/

Sau khi đánh giá qua rủi ro suy thoái, chúng ta quay sang trả lời câu hỏi P/E đang cao ngất ngưởng thì thị trường còn trông vào đâu để tăng trưởng.

Trong 100 năm qua, chỉ số P / E trung bình của S & P 500 là 16.2x, và S & P 500 hiện đang giao dịch ở mức 23.2x, cho thấy thị trường đắt đỏ.

Tuy nhiên, việc so sánh định giá với P / E trung bình 100 năm không cho chúng ta biết toàn bộ câu chuyện. Bối cảnh là điều cần thiết. Có rất nhiều trình điều khiển quan trọng của bối cảnh theo thời gian, hai trong số đó là thuế suất và lạm phát. Phân tích lịch sử và lý thuyết kinh tế đều cho thấy rằng thuế nhà đầu tư thấp hơn dẫn đến định giá công bằng của P/E cao hơn, và lạm phát cao dẫn đến định giá P/E thấp hơn (và ngược lại). Như vậy, khi suy nghĩ về bối cảnh giá thị trường hiện tại, chúng ta nên xem xét môi trường mà chúng ta đang đầu tư.

Hình 11 : thuế và lạm phát ảnh hưởng tới P/E

Mĩ hiện đang ở trong một môi trường lạm phát thấp (nhưng xu thế tăng), cùng với tỷ lệ cổ tức thấp và thuế suất tăng vốn, so với tỷ lệ lịch sử có khả năng vẫn tồn tại. Với việc ý đồ hiện tại của nhánh lập pháp của Mỹ và dự trữ dài hạn của Cục Dự trữ Liên bang về mục tiêu lạm phát 2% , các tay chơi Down Jones đang ở trong một môi trường có P / E trung bình của thị trường là 20,1 lần.

Hiện tại, định giá đang nằm ngay trên mức này, với P / E trên S & P 500 là 23.2x. Với bối cảnh mới này, định giá không xuất hiện đặc biệt đắt tiền nhưng vẫn ở trên mức trung bình dựa trên môi trường thị trường. Như vậy bơm tiền vào, chế độ thuế mới làm tăng lợi nhuận E. áp dụng công nghệ tự động từ khâu giao hàng trở đi khiến lương tăng nhưng tổng số lao động giảm, giảm quĩ lương thì tăng E …… Hàng loạt biện pháp đang được thi thố để kéo P/E xuống, nhất là giảm tổng quĩ lương trong khi tăng lương trên đầu người đã làm dịu nỗi lo lạm phát của Wall Street. Qua đó khống chế lạm phát dưới 3%. Những điều đó tạo ko gian cho thị trường tiếp tục tăng trưởng.

Không ngạc nhiên khi người ta vẫn đang sẵn sàng bơm thêm tiền (vì đã có hiệu quả không thắt chặt ), vẫn không có dấu hiệu tăng nguy cơ hệ thống hoặc điều kiện tín dụng xấu đi. Chênh lệch tín dụng vẫn ở mức thấp và thanh khoản vẫn dồi dào. Mặc dù Fed đã làm cạn kiệt dự trữ ngân hàng, nhưng họ vẫn còn dư dật, tổng cộng khoảng 1,9 nghìn tỷ USD. Và với việc thu hẹp định lượng, mỗi năm FED lại có thêm trong tay 600 tỷ nữa tạo ko gian để sẵn sàng thi thố. Có thể nhận thấy điều đó qua trái phiếu 2 năm cùng hàng loạt chỉ số phụ khác.

Hình 12: chênh lệch hoán đổi trái phiếu kì hạn 2 năm

Hiện tại, chênh lệch trao đổi thường thấp và hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế và tài chính lành mạnh. Khi nào chỉ số này vượt 60 hay 80 điểm thì mới đáng lo. Đứng từ góc độ chỉ số này, trong vòng 2 năm nữa chưa có suy thoái

Hình 13 : chênh lệch GI và HY

Hình trên cho thấy sự chênh lệch về mức đầu tư rủi ro thấp GI và lợi nhuận cao HY (hay còn gọi là “rác”) vẫn còn cực thấp . Mức chênh lệch càng thấp chứng tỏ nhà đầu tư chưa thấy nhu cầu phòng ngừa rủi ro. Chỉ số này cho thấy sau khi nổi còi báo động vào năm 2016, nó lại ngoan ngoãn nằm im mà lí do rất đơn giản : nhà đầu tư thấy sắp sửa có cải cách thuế, cải cách hành chính giảm bớt thủ tục nên tin vào sự tăng trưởng. Và hiện tại, trong vòng 12 tháng tới chưa thấy nguy cơ trên đường chân trời

Hình 14: chênh lệch 5-yr A1 và 5-yr swap

so sánh lợi nhuận trên trái phiếu công nghiệp loại A1 trong 5 năm với lãi suất trái phiếu kỳ hạn 5 năm. Cả hai đã tăng lên kể từ khi Fed bắt đầu tăng lãi suất. Biểu đồ số 7 so sánh mức chênh lệch trên Công nghiệp A1 trong 5 năm với chênh lệch hoán đổi 5 năm. Cả hai đều tương đối thấp mặc dù lãi suất đã tăng đáng kể. Lưu ý mức độ chênh lệch tăng trước các đợt suy thoái trước đó, tại thời điểm Fed tăng lãi suất cao hơn. Đây là xác nhận thêm rằng Fed đã không được thắt chặt. Với bất cứ điều gì, hai biểu đồ này cho thấy chúng ta vẫn đang ở giữa những gì có thể chứng minh là một sự mở rộng chu kỳ kinh doanh rất dài.

Hình 15 : tỉ lệ nợ quá hạn

cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn trên tất cả các khoản vay ngân hàng và cho thuê tính đến tháng 3 năm 2018. Tại đây, người ta vẫn thấy xác nhận rằng lãi suất tăng vừa qua không ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm trong gần một thập kỷ và tiếp tục làm như vậy. Ở đây cũng cần phải nói rằng đây là tính theo tiêu chuẩn basel 3, basel 4 nên nợ quá hạn 6% là đã xảy ra đại khủng hoảng. Đám ngân hàng chúng ta mà áp tiêu chí đó vào thì nợ xấu lên đến 60% là cái chắc. Chả thế mà tự nhiên mấy sếp Phạm Công Danh hay Trầm Bê có dịp uống trà tán gẫu với nhau dưới sự bảo trợ của nhà nước.

Ảnh hưởng của độ dốc đường cong lợi suất trung bình trên thị trường chứng khoán

Người ta thấy rằng dự đoán tốt hơn về thị trường gấu trong tương lai là kiểm tra độ dốc trung bình của đường cong lợi suất. Độ dốc trung bình cho một dấu hiệu của hình dạng của đường cong lợi suất. Nếu độ dốc trung bình của đường cong lợi suất gần bằng không hoặc âm, nó cho biết đường cong phẳng hoặc ngược. Để xác định độ dốc trung bình, hàm toán học biểu diễn đường cong lợi suất thu được bằng phép nội suy sprite khối Hermite được phân biệt.Đạo hàm của hàm này sau đó được đánh giá ở 500 khoảng cách đều nhau trong phạm vi ngày đáo hạn được kiểm tra (1 đến 30 năm). Độ dốc trung bình này được trình bày dưới đây.

Độ dốc trung bình tiêu cực chắc chắn là một dấu hiệu cảnh báo rằng một thị trường chuẩn bị giảm sắp xảy ra, nhưng không phải là một yếu tố dự báo hoàn hảo. Các đường cong lợi suất bị đảo lộn mạnh vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 trong cả hai thị trường chứng khoán tăng và giảm. Tuy nhiên, đường cong lợi suất trung bình tiêu cực là tín hiệu cảnh báo hoàn hảo gần để thoát khỏi thị trường chứng khoán trước khi hai thị trường sụp đổ.

Hình 16 : Độ dốc trung bình

Giá nhà ở mĩ hiện cao xấp xỉ như trước cuộc khủng hoảng tài chính làm nhiều người run sợ. FED xử lí bằng cách làm dẹt đường cong lãi suất để dập tắt ý đồ đầu cơ lướt sóng nhà ở, để thị trường chỉ còn bên bán và bên mua ở thực sự.

Lãi suất ngắn hạn đang tăng làm dẹt đường cong lãi suất. Để chống nguy cơ đảo chiều thì FED tiến hành thu hẹp định lượng, xiết nguồn cung tiền để đẩy lợi tức trái phiếu dài hạn lên

Hình 17 : đường cong và lạm phát

Fed không chỉ nhắm mục tiêu lãi suất quỹ. Những gì nó thực sự nhắm mục tiêu - nhưng hiếm khi nói ra - là tỷ lệ quỹ thực tế Real FED Fund. Vay tiền 5% khi lạm phát 1% là một việc, nhưng vay tiền 5% khi lạm phát là 10% là việc khác (trước đây có nghĩa là vay là đắt tiền, nghĩa là vay tiền là cách tốt để kiếm tiền).Chi phí vay thực sự là những gì thực sự ảnh hưởng đến hành vi. Khi khai thác tiền là rất tốn kém - khi chi phí vay thực cao - mọi người không được khuyến khích vay mượn và chi tiêu và được khuyến khích để tiết kiệm tiền; cuối cùng, nếu tỷ lệ thực tế bị ép buộc quá cao, hoạt động kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Đó là nguyên nhân gần đúng của mỗi một trong những cuộc suy thoái trong 60 năm qua.

Biểu đồ trên thực sự có hai thông điệp: 1) đường cong lợi suất ngược là một chỉ báo tốt hàng đầu về suy thoái, và 2) lãi suất ngắn hạn thực sự cao cũng là một chỉ báo tốt nhất của suy thoái. Khi cả hai điều kiện đó cùng xảy ra, đó là khi bạn cần phải lo lắng về một cuộc suy thoái. Còn lúc này chúng ta thậm chí không cần phải lo lắng.

Hình 18 : đường cong 5 năm và lãi suất thực

thông tin về độ dốc của đường cong lợi suất thực, được điều chỉnh theo lạm phát. Lãi suất thực cũng quan trọng, nếu không nhiều hơn, so với sản lượng danh nghĩa.Ngày nay, mặt trước của đường cong lợi suất thực tế được dốc tích cực (tức là sự chênh lệch giữa hai đường là dương), và nó thực sự đã tăng lên kể từ mùa hè năm ngoái. Thông điệp: thị trường đồng ý với Fed rằng lãi suất ngắn hạn, trong điều kiện thực tế, sẽ cần phải tăng trong những năm tới. Không phải là một khẳng định chắc chắn, nhưng đủ để loại trừ quan niệm rằng thị trường và / hoặc Fed đang lo lắng về sức khỏe của nền kinh tế.

Thời gian để lo lắng là khi đường cong lợi nhuận thực sự trở nên tiêu cực dốc, như đã xảy ra trước mỗi đợt suy thoái vừa qua (nghĩa là khi đường màu xanh vượt quá đường màu đỏ, vì điều đó có nghĩa là Fed đã thắt chặt quá nhiều).

Một lý do khác mà Fed cần tăng lãi suất thực tế là tăng tính hấp dẫn của 2 nghìn tỷ đô la dự trữ ngân hàng dư thừa do hệ thống ngân hàng nắm giữ.Không làm như vậy sẽ làm giảm mong muốn của ngân hàng để giữ dự trữ dư thừa, và do đó sẽ dẫn đến cho vay quá nhiều, quá nhiều tiền, một đồng đô la yếu hơn, và lạm phát gia tăng.

https://politicalcalculations.blogspot.com/2018/05/the-fed-meets-nothing-happens-recession.html#.WzeAbpCg9QA

Hình 20 : chỉ số XLY/XLP – mua hàng hóa tăng trưởng/ phòng thủ

Với nền kinh tế mĩ, chi tiêu hộ gia đình chiếm 70% GDP. Vậy việc bọn họ mua gì cũng đánh dấu rất lớn triển vọng của nền kinh tế. Chỉ số XLY theo dõi doanh số các hộ gia đình người mĩ mua hàng theo định hướng tăng trưởng như nhà cửa, đổi ô tô và TV mới, đi du lịch, đồ xa xỉ phẩm ( đá quí, trang sức, thời trang ) hay đơn giản chỉ là mua thêm quần áo mới.

XLP là những mặt hàng chủ lực của người tiêu dùng theo định hướng phòng thủ bao gồm thực phẩm, đồ uống, thuốc, sản phẩm vệ sinh và vật tư y tế, xăng đổ ô tô

Vào thời khủng hoảng chỉ số XLY/XLP thường xấp xỉ hay nhỏ hơn 1, tức người tiêu dùng có xu hướng tiêu thụ hai mặt hàng này như nhau.

Vào thời tăng trưởng , chỉ số XLY/XLP lớn hơn 1 nhiều. Nhìn vào biểu đồ, chúng ta thấy hai vấn đề :

  • Cải cách thuế của tổng thống Bush mất 2 năm mới phát huy tác dụng rồi nhanh chóng vực dậy chỉ số XLY/XLP sau cuộc khủng hoảng dot.com. Vậy lúc này cải cách thuế của mr Trump đã ngấm vào nền kinh tế chưa và sẽ còn phát huy tới đâu?

  • Trước khủng hoảng kinh tế 2008 thì chỉ số XLY/XLP có 4 năm tươi đẹp với tỉ số > 1.60. Và hiện tại, XLY/XLP đang cho thấy chúng ta sẽ còn ít nhất 4 năm tăng trưởng nữa.

Hình 20 : nguy cơ suy thoái của kinh tế mĩ

Theo tính toán của FED , đến ngày 13/6/2018 thì nguy cơ suy thoái của kinh tế mĩ là 0.82% mà lại còn đang chúc xuống. Như thế là cao hay thấp thì xin mời các bác chém ró ạ.

Điều đáng lo ngại hôm nay không phải là đường cong lợi nhuận, mà là mối đe dọa của một cuộc chiến thương mại có thể xảy ra với Trung Quốc và những căng thẳng đang diễn ra ở Trung Đông. Nhưng đó lại là câu chiện cuối tuần khác rùi.

Cái hay nhất : lãi suất tăng thì tiền dồn vào nước mĩ, DJ tăng để làm đầu tàu kéo chợ chứng thế giới đi lên. Chúng em ủng hộ việc gắn sự biến động của VNI theo DJ . Lí do rất đơn giản : làm như thế thì khoai tây càng tin tưởng 3 sàn nhiều hơn, tiền đổ vào VNI càng nhiều hơn. Chả thế mà Nikkey sàn Tokyo cũng tăng giảm theo DJ .

Như vậy, nếu như các bảng biểu này của FED là chính xác thì về cơ bản 2 năm nữa chúng ta chưa thấy suy thoái. Vấn đề là đám bảng biểu đó có được làm đẹp hay ko thì em ko biết, các bác cứ việc tranh luận với FED và chỉ ra rằng họ đang sai nghiêm trọng. Cá nhân em cho rằng FED cũng cấy trồng số liệu, cooking như ai. Có điều trình độ của họ cao hơn, đồng thời phương thức thực hiện ko trắng trợn như sàn VNI mà điển hình là vụ MTM.

Vậy câu hỏi là bất chấp dữ liệu rõ ràng như vậy thì ai đang nổi kèn báo động suy thoái và đường cong lãi suất dẹt đi, tại sao bọn họ làm điều đó? Giới tài chính đó ạ và lí do là tiền, rất nhiều tiền.

Tổng thị trường chứng khoán trị giá 64 k tỏi trump, chợ trái phiếu trị giá 100 k tỏi trump. Nếu FED tăng lãi suất 0.25% có nghĩa là chi phí vốn của bọn họ tăng lên, khiến mỗi năm thiệt hại hơn 400 tỏi trump. Nếu như dùng vài bài báo hù dọa suy thoái và đường cong lãi suất dẹt làm cho FED lùi thời hạn nâng lãi suất 1 quí là bỏ túi thêm 100 tỏi trump zồi ( thực ra chỉ để tạo điều kiện cho FED dễ dàng mắt nhắm mắt mở khi ko nâng lãi suất thôi). Vậy tại sao ko cùng nhau thử? Và số topic về suy thoái mọc nhiều như quân nguyên là vậy. F3một9 chỉ là bức tranh thu nhỏ của nó mà thôi.

Túm váy lại : Thiên hạ cứ việc kê cao gối ngủ kĩ một khi FED tính toán ra rằng bất kể đường cong lãi suất đang dẹt đi thì xác suất suy thoái mĩ vẫn mới chỉ là 0.82% mà còn đang giảm xuống.

1 Likes